Tiếng lóng: Sao gọi là ‘lóng’?

Tác giả: Nguyễn Đức Dân

Victor Hugo

Tiếng Lóng

Giáo sư Nguyễn Đức Dân mở đầu câu chuyện tiếng lóng (dài kỳ) với bạn đọc goNews xoay quanh hai câu hỏi được nhiều bạn nêu lên: Tiếng lóng là gì, và do đâu mà gọi là “lóng”?

Tiếng lóng kiểu “Chuột túi” Tiếng lóng tôi dùng cách nay hơn 60 năm ‘Tiếng sao Hỏa’ = Hình thức giải trí? Tiếng lóng: ‘Tiệc cocktail’ trên mạng tiếng Hoa Mật mã dễ thương, hay sự nghèo nàn ngôn từ? Tiếng lóng @: 8x, 9x Việt nghĩ gì? Mê tiếng lóng, vì đâu? Ngôn ngữ chat & Sĩ diện điện tử Tiếng lóng “hiểu chết liền”

Sao gọi là “lóng”?
Tiếng lóng là slang, cant (tiếng Anh), là argot, jargon (tiếng Pháp).
Người ta không biết đích xác từ slang xuất hiện lúc nào, nhưng năm 1736 đã xuất hiện từ điển Nathan Bailey’s Canting Dictionary (thieving slang). Trong từ điển này, người ta sưu tầm từ ngữ của bọn trộm cắp (Foot-Pads), ăn mày (beggars), dân lang thang (gypsies), bọn lường gạt (cheats), bọn đào ngạch, khoét vách, bẻ khóa (house-breakers), phu bốc vác (shop-lifters), bọn cướp đường (highway-men)…

Từ xưa, nói chung, tiếng lóng là ngôn ngữ
của tầng lớp hạ lưu như dân gypsy,…

Ngay tựa đề ấy cũng cho biết, từ xa xưa, tiếng lóng là ngôn ngữ của bọn trộm cắp, và nói chung là của tầng lớp hạ lưu. Vì vậy, trước đây ở rất nhiều nước, nhiều người coi tiếng lóng là thứ ngôn ngữ thiếu văn hóa, không nên dùng.

Thậm chí ở Việt Nam, cách đây chưa xa, cũng có những nhà ngôn ngữ học cho rằng tiếng lóng là hiện tượng không lành mạnh trong ngôn ngữ, không có tác dụng tích cực, không làm giàu thêm ngôn ngữ toàn dân, phải triệt để chống tiếng lóng và kiên quyết gạt nó ra khỏi ngôn ngữ văn hóa. Bạn có thể tìm thấy điều này qua giáo trình Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1976), hoặc công trình Tiếng Việt trên đường phát triển (NXB Khoa học Xã hội, 1982) của Nguyễn Văn Tu và Nguyễn Kim Thản.

Ở Việt Nam, tôi không rõ từ “lóng” trong “tiếng lóng”, “nói lóng” xuất hiện từ bao giờ. Nhưng trong Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của, in năm 1895, đã có từ “nghe lóng”, nghĩa là “nghe qua vậy, nghe lóm nghe không chắc”, “lóng tai” nghĩa là “lặng (/lắng) tai, nghe cho tỏ rõ”, và “hỏi lóng” nghĩa là “hỏi lén”,…

Trong Việt Nam Tự điển, xuất bản năm 1931, đã cắt nghĩa lóng là “thứ tiếng của một bọn dùng riêng với nhau để cho người ngoài không hiểu: tiếng lóng của cô đào. Tiếng lóng của lái lợn. Nghĩa rộng: nghe được câu chuyện người ta nói riêng với nhau gọi là nghe lóng”. Vậy thì, từ 1895, Huình Tịnh Của đã giảng nghĩa “nghe lóng” là nghe lóm, nghe theo cách bí mật, không chính thống, “hỏi lóng” là hỏi lén, hỏi bí mật, theo cách không chính thống. Đó cũng là cách giải thích cho “nói lóng” là cách nói bí mật, nói theo cách không chính thống.

Vậy thì, trong tiếng Việt, từ cuối thế kỷ XIX, từ “lóng” đã có cái nghĩa “chuyện riêng tư, thầm kín, không chính thống”.
Vỏ ngữ âm của từ “lóng” rất gần với slang. Nhưng chưa có chứng cứ nào chỉ rõ từ lóng bắt nguồn từ slang.

Do đâu hình thành từ slang?

Vài định nghĩa khác

Từ điển Petit Larousse illustré (1973): “Từ vựng riêng biệt của một nhóm, một nghề hoặc một giai tầng xã hội”.
Hiện đại Hán ngữ từ điển (Trung Quốc, 1998) giải thích về li yu (lý ngữ – tiếng lóng): “Những phuơng ngôn thô tục hoặc luu hành hạn hẹp”.
Advanced learner’s English dictionary (1993): “Các từ, cụm từ rất thân mật, không nghi thức, thuờng dùng trong lời nói, nhất là giữa những nguời cùng một nhóm xã hội, làm việc cùng nhau và không đuợc xem là thích hợp cho những bối cảnh nghi thức, cũng nhu chẳng thể sử dụng lâu dài”.
Các từ điển trên không phân biệt tiếng lóng với biệt ngữ và tiếng nghề nghiệp.
Nhà nghiên cứu Da Zhaomin của Trung Quốc (1996) đề xuất cách gọi khác: ấn ngữ / ám ngữ / hắc thoại. Tác giả này chia ra hai loại lớn, gọi là “ẩn ngữ nghề nghiệp” và “ẩn ngữ giang hồ”.
(Theo VÕ NGÂN Vuơng)

Có nhiều giả thuyết về cội nguồn từ này. Xin nêu để các bạn tham khảo.
– Trong tiếng của một tộc người ở Trung Âu gốc Á, sống lang thang (trước đây thường gọi là dân di-gan, dân bô-hê-miêng, dân gipsy), slang là cái lưỡi, là ngôn ngữ.
– Theo các tác giả O. Ritter (1906), K. Werstendorpf (1923), slang chính là cách đọc dính của cụm từ thieves’ language, gypsies’ language.
– Tiếng Thụy Điển có từ slengjenamn có nghĩa là bí danh. Các tiếng Đan Mạch, Na Uy đều có từ slæng, sleng với nghĩa bóng là ngôn ngữ của riêng từng nhóm người mà phát âm nghe thành slang. Đó có thể là nguồn gốc của từ slang.
– Trong tiếng Pháp thế kỷ XVII, nargue có nghĩa là trộm cắp, sau chuyển thành động từ narguer rồi thành danh từ (un) argot.

3. Hiện nay người ta quan niệm về tiếng lóng khác đi.
Đó là lớp từ vựng dùng không theo thể thức chuẩn, không theo quy ước như cách dùng thông thường. Chúng là những từ mang những thông tin không chính thức như nghĩa thông thường, có thể là những từ mới hoặc những từ ngữ vốn có nhưng nay được dùng với nghĩa mới, trong một hoàn cảnh mới.

Dầu muốn hay không, tiếng lóng là một thực tế đầy sinh động tồn tại trong hầu như bất kỳ ngôn ngữ nào.

Đại văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885), trong tác phẩm Le dernier jour d’un condamné (Ngày cuối của một tử tù), in năm 1828, đã từng chú ý sử dụng tiếng lóng. Thậm chí trong bộ tiểu thuyết đồ sộ Les misérables (Những người khốn khổ), in năm 1861, ông để cả chương VII trong phần thứ tư để bàn về tiếng lóng.

Ở Việt Nam, tiếng lóng đã được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX. Công trình đầu tiên về tiếng lóng trong tiếng Việt là bài viết mang tựa đề L’argot annamite (tiếng lóng trong tiếng An Nam) được đăng năm 1905 trong tập san BEFEO của trường Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội), của học giả nước ngoài J. N. Cheon.

Năm 1925, học giả Nguyễn Văn Tố (1889-1947) cũng có bài L’argot annamite de Hanoi (Tiếng lóng Việt Nam ở Hà Nội).

Năm 2001, tác giả Nguyên Văn Khang cho xuất bản cuốn Tiếng lóng Việt Nam (NXB Khoa học Xã hội), một cuốn sách có ích cho những ai quan tâm đến tiếng lóng. Song, trong công trình này còn để lại những vấn đề cần bàn bạc thêm.

Victor Hugo: “… Tiếng lóng vừa là một hiện tuợng văn học vừa là một kết quả xã hội. Tiếng lóng, căn bản là gì? Là ngôn ngữ của tiếng lóng khốn cùng. Mọi nghề, mọi nghiệp, có thể mọi ngẫu nhiên của hệ thống xã hội và hết thảy các hình thức của trí tuệ, đều có tiếng lóng của nó. Về phuơng diện thuần túy văn học, nghiên cứu tiếng lóng có thể kỳ thú hơn nhiều khoa học khác…” (trích Những người khốn khổ).

Trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, ở Tôi kéo xe của Tam Lang, rất nhiều tiếng lóng đã được sử dụng. Những thiên phóng sự đặc sắc của Vũ Trọng Phụng như Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Số đỏ (1936), Làm đĩ (1936), Lục xì (1937),… cũng chứa biết bao tiếng lóng.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *